Kết quả điều tra gần nhất cho thấy một thay đổi đáng chú ý nhưng không ủng hộ những tiêu đề giật gân. Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ năm 2024 ghi nhận 2,6% dân số từ 15 tuổi trở lên ở tình trạng ly hôn, so với 1,8% trong Tổng điều tra năm 2019. Đây là tỷ trọng tại thời điểm khảo sát. Con số này không có nghĩa 2,6% cuộc hôn nhân đã chấm dứt trong năm 2024, cũng không chứng minh một tỷ lệ cố định các cuộc hôn nhân tại Việt Nam sẽ kết thúc bằng ly hôn.
Bài viết giải thích ý nghĩa của các số liệu hiện có, giới hạn của chúng khi nói về thay đổi xã hội và ảnh hưởng của chia tay đối với sức khỏe tinh thần của người lớn và trẻ em. Bài viết cũng nêu những tình huống mà tham vấn tâm lý hoặc hỗ trợ chuyên môn có thể hữu ích.
Số liệu ly hôn mới nhất thực sự đo lường điều gì
Điều tra giữa kỳ năm 2024 phân loại người từ 15 tuổi trở lên theo tình trạng chưa kết hôn, đang có vợ hoặc chồng, góa, ly hôn hoặc ly thân. Trên toàn quốc, 65,3% đang có vợ hoặc chồng, 25,1% chưa từng kết hôn, 6,7% góa, 2,6% ly hôn và 0,3% ly thân. Các nhóm này mô tả tình trạng của mỗi người tại thời điểm điều tra.
Trong Tổng điều tra năm 2019, tỷ trọng người ly hôn là 1,8% và người ly thân là 0,3%. Mức tăng từ 1,8% lên 2,6% có ý nghĩa, nhưng cần diễn đạt chính xác: tỷ trọng người từ 15 tuổi trở lên tự khai đang ly hôn đã tăng. Số liệu không cho biết bao nhiêu cuộc hôn nhân đầu tiên cuối cùng sẽ tan vỡ, bởi dân số được khảo sát gồm nhiều nhóm tuổi, lịch sử hôn nhân và khả năng tái hôn khác nhau.
Tổng cục Thống kê còn định nghĩa tỷ suất ly hôn thô theo năm. Tử số là số vụ, việc ly hôn đã được tòa án cấp sơ thẩm giải quyết bằng bản án hoặc quyết định. Mẫu số là dân số trung bình, sau đó nhân với 1.000. Vì vậy, tỷ suất thô cho biết số vụ ly hôn được tòa giải quyết trên 1.000 dân, không phải trên 1.000 người đang có vợ hoặc chồng.
- Tỷ trọng theo tình trạng hiện tại: phần trăm người đang ở tình trạng ly hôn tại thời điểm khảo sát.
- Tỷ suất ly hôn thô: số vụ ly hôn đã giải quyết trên 1.000 dân trong một thời kỳ.
- Tỷ số ly hôn trên kết hôn: số vụ ly hôn trong một kỳ chia cho số cuộc kết hôn trong cùng kỳ. Những người ly hôn không phải chính là các cặp vừa kết hôn trong năm đó.
- Tỷ trọng trong án việc tòa án: số vụ việc hôn nhân và gia đình trong tổng số vụ việc. Chỉ số này phản ánh khối lượng công việc tư pháp, không phải xác suất một cuộc hôn nhân chấm dứt.
Một tuyên bố như “cứ ba cuộc hôn nhân thì có một cuộc ly hôn” cần dữ liệu theo dõi các cuộc hôn nhân qua thời gian hoặc một ước tính vòng đời được xây dựng đúng phương pháp. Không thể suy ra điều đó chỉ bằng cách lấy số vụ ly hôn chia cho số cuộc kết hôn của cùng một năm.
Khác biệt giữa thành thị, nông thôn và các vùng
Điều tra năm 2024 ghi nhận tỷ trọng người ly hôn từ 15 tuổi trở lên là 2,9% ở thành thị và 2,4% ở nông thôn. Tỷ trọng ly thân đều là 0,3% tại hai khu vực. Tổng điều tra năm 2019 cũng cho thấy tỷ trọng ly hôn ở thành thị cao hơn, lần lượt là 2,1% và 1,6%.
Những con số này cho thấy mối liên hệ với nơi cư trú, không chứng minh một nguyên nhân duy nhất thuộc về đời sống đô thị. Cơ cấu tuổi, học vấn, việc làm, di cư, khả năng tiếp cận tòa án, mức độ độc lập tài chính và sự sẵn sàng khai báo tình trạng hôn nhân có thể khác nhau. Ở nông thôn, một số cặp sống riêng nhưng chưa hoàn tất thủ tục, hoặc giải quyết mâu thuẫn qua gia đình và cộng đồng. Thống kê về tình trạng pháp lý vì thế có thể bỏ sót một số mối quan hệ đã chấm dứt trên thực tế.
Có phải các cặp vợ chồng trẻ ly hôn nhiều hơn
Những nhận định rằng phần lớn vụ ly hôn tại Việt Nam thuộc về “cặp đôi trẻ” thường không nêu rõ độ tuổi, năm thống kê hoặc mẫu số. Điều tra dân số cho thấy mô hình hôn nhân đang thay đổi, nhưng không cho phép khẳng định một tỷ lệ cụ thể các cuộc hôn nhân trẻ tan vỡ nếu không có bảng số liệu theo tuổi và phương pháp phù hợp.
Nghiên cứu về hôn nhân tại Việt Nam mô tả xu hướng kết hôn muộn hơn, quyền tự chọn bạn đời lớn hơn, trình độ học vấn tăng, công nghiệp hóa và đô thị hóa, trong khi cha mẹ và gia đình mở rộng vẫn có vai trò quan trọng. Những biến đổi này có thể làm thay đổi kỳ vọng trong hôn nhân và lựa chọn khi mối quan hệ không còn an toàn hoặc không thể tiếp tục. Chúng không có nghĩa giá trị hiện đại tự động gây ly hôn.
Yếu tố xã hội và kinh tế không phải danh sách nguyên nhân đơn giản
Ly hôn là kết quả pháp lý của cả một quá trình quan hệ. Mâu thuẫn tiền bạc, phân công việc nhà không công bằng, di cư vì việc làm, khác biệt trong nuôi dạy con, ngoại tình, cờ bạc, lạm dụng rượu bia và bạo lực có thể xuất hiện trong nghiên cứu hoặc hồ sơ tòa án. Việc một yếu tố xuất hiện không chứng minh nó là nguyên nhân của xu hướng toàn quốc. Lý do trong hồ sơ pháp lý cũng không nhất thiết phản ánh đầy đủ lịch sử của mối quan hệ.
Khi có kiểm soát cưỡng ép, đe dọa hoặc bạo lực thể chất hay tình dục, trị liệu cặp đôi có thể không phù hợp và không an toàn. Lập kế hoạch bảo vệ và hỗ trợ riêng cho người bị ảnh hưởng cần được ưu tiên. Người đang gặp nguy hiểm tức thời nên liên hệ dịch vụ khẩn cấp tại địa phương hoặc một tổ chức hỗ trợ đáng tin cậy.
Sức khỏe tinh thần sau ly thân hoặc ly hôn
Phản ứng ngắn hạn thường gặp gồm rối loạn giấc ngủ, khó tập trung, thay đổi khẩu vị, lo âu và tâm trạng buồn. Những trải nghiệm này riêng lẻ chưa đủ để xác định một rối loạn tâm thần. Hỗ trợ trở nên quan trọng khi triệu chứng kéo dài, nghiêm trọng, ảnh hưởng công việc hoặc chăm sóc con, hay đi kèm tuyệt vọng, sử dụng chất quá mức, ý nghĩ tự làm hại bản thân hoặc không thể thực hiện sinh hoạt hằng ngày.
Người muốn tìm hỗ trợ có thể đọc thêm về tâm lý học lâm sàng và vai trò của đánh giá, trị liệu. Nếu triệu chứng cần được bác sĩ thăm khám, hướng dẫn về thuốc chống trầm cảm giải thích việc kê đơn và theo dõi. Bài về trí tuệ cảm xúc có thể giúp nhận diện cảm xúc và giao tiếp rõ ràng hơn mà không coi đây là giải pháp thay thế chăm sóc chuyên môn.
Ly hôn có thể ảnh hưởng trẻ em như thế nào
Một nghiên cứu cắt ngang năm 2023 trên 309 học sinh có cha mẹ ly thân hoặc ly hôn tại Huế sử dụng thang sàng lọc DASS-21 và ghi nhận mức triệu chứng căng thẳng, lo âu và trầm cảm cao. Nghiên cứu có giá trị vì tập trung vào Việt Nam, nhưng không chứng minh ly hôn của cha mẹ gây ra mọi triệu chứng. Mẫu chỉ gồm học sinh tại bốn trường ở một thành phố và không có nhóm so sánh từ gia đình có đủ cha mẹ sống chung.
Thông điệp thực tế là bảo vệ trẻ khỏi tranh chấp của người lớn và cung cấp thông tin phù hợp lứa tuổi. Trẻ cần biết điều gì sẽ thay đổi, điều gì vẫn ổn định và cách liên hệ với mỗi phụ huynh khi an toàn. Duy trì sinh hoạt đều đặn, việc học và quyền yêu thương cả cha lẫn mẹ có thể giúp trẻ. Người lớn không nên dùng trẻ làm người chuyển tin, người thu thập thông tin hay chỗ dựa cảm xúc cho mình.
Trị liệu cặp đôi, hòa giải và hỗ trợ cá nhân
Trị liệu cặp đôi có thể hữu ích trước quyết định cuối cùng khi cả hai người tham gia tự nguyện và an toàn. Quá trình này có thể giúp làm rõ xung đột lặp lại, kỳ vọng, cách giao tiếp và khả năng hàn gắn. Trị liệu không bảo đảm hôn nhân sẽ tiếp tục. Một kết quả có ích cũng có thể là quyết định rõ ràng hơn hoặc chia tay ít gây tổn hại hơn.
Hiểu xu hướng ly hôn tại Việt Nam một cách có trách nhiệm
Kết luận vững chắc nhất hiện nay khá thận trọng: tỷ trọng dân số Việt Nam từ 15 tuổi trở lên ở tình trạng ly hôn đã tăng giữa Tổng điều tra năm 2019 và Điều tra giữa kỳ năm 2024, đồng thời vẫn cao hơn tại thành thị so với nông thôn. Con số toàn quốc năm 2024 là 2,6%, cùng với 0,3% ly thân.
Đối với cá nhân, số liệu toàn quốc không thể quyết định nên tiếp tục hay chấm dứt một mối quan hệ. Bước thực tế là xác định nhu cầu trước mắt: an toàn, thông tin pháp lý, giao tiếp, nuôi con, tài chính hay sức khỏe tinh thần. Sau đó hãy chọn dịch vụ có chuyên môn phù hợp và xác nhận ngôn ngữ, chi phí, bảo mật cũng như kế hoạch theo dõi trước buổi hẹn đầu tiên.
Câu hỏi thường gặp
Tỷ lệ ly hôn ở Việt Nam là bao nhiêu?
Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ năm 2024 ghi nhận 2,6% người từ 15 tuổi trở lên ở tình trạng ly hôn và 0,3% ly thân. Đây là tỷ trọng theo tình trạng tại thời điểm khảo sát, không phải phần trăm cuộc hôn nhân chấm dứt trong năm 2024 hoặc cuối cùng sẽ ly hôn.
Ly hôn phổ biến hơn ở thành thị hay nông thôn?
Trong điều tra năm 2024, 2,9% người từ 15 tuổi trở lên tại thành thị ở tình trạng ly hôn, so với 2,4% tại nông thôn. Số liệu cho thấy mối liên hệ với nơi cư trú nhưng không xác định một nguyên nhân duy nhất cho khác biệt.
Có phải cứ ba cuộc hôn nhân ở Việt Nam thì một cuộc ly hôn?
Không nên sử dụng tuyên bố đó nếu không có nghiên cứu theo dõi hôn nhân qua thời gian hoặc ước tính vòng đời hợp lệ. Lấy số vụ ly hôn của một năm chia cho số cuộc kết hôn cùng năm không cho biết kết cục cuối cùng của những cuộc hôn nhân đó.
Trị liệu cặp đôi có thể ngăn ly hôn không?
Trị liệu có thể giúp hai người hiểu xung đột và đánh giá khả năng hàn gắn, nhưng không bảo đảm hôn nhân tiếp tục. Khi có bạo lực, kiểm soát cưỡng ép hoặc sợ hãi, hỗ trợ an toàn cho từng cá nhân thường phù hợp hơn buổi trị liệu chung.
Khi nào nên tìm hỗ trợ tâm lý sau ly hôn?
Nên cân nhắc hỗ trợ chuyên môn khi căng thẳng kéo dài, ảnh hưởng giấc ngủ, công việc, việc chăm sóc con hoặc sinh hoạt hằng ngày, hay đi kèm tuyệt vọng, sử dụng chất quá mức hoặc ý nghĩ tự làm hại bản thân. Nguy hiểm tức thời hoặc khủng hoảng sức khỏe tâm thần cần trợ giúp khẩn cấp tại địa phương.
Nguồn
- Tổng cục Thống kê: Kết quả chủ yếu Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ năm 2024
- UNFPA Việt Nam: Kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019
- Tổng cục Thống kê: Định nghĩa thống kê số vụ ly hôn và tuổi ly hôn trung bình
- Locke, Nguyen và Nguyen: Hộ gia đình di động và tan vỡ hôn nhân tại Việt Nam
- Sức khỏe tinh thần và các yếu tố liên quan ở thanh thiếu niên có cha mẹ ly thân hoặc ly hôn tại Việt Nam
- UNICEF Việt Nam: Sức khỏe tinh thần và đời sống tâm lý xã hội của trẻ em và thanh niên

Rà soát y khoa
Tan Nguyen
Tác giả y khoa của Vietnam Clinic. Bác sĩ, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.




