Quay lại cẩm nang sức khỏe · · Đã cập nhật

Viêm họng hạt: Nguyên nhân, triệu chứng và điều trị

“Viêm họng hạt” là thuật ngữ thường dùng tại Việt Nam để mô tả tình trạng họng viêm kéo dài hoặc tái phát, trong đó mô lympho ở thành sau họng nổi rõ thành các hạt.

Viêm họng hạt: Nguyên nhân, triệu chứng và điều trị

“Viêm họng hạt” là cách gọi thường dùng ở Việt Nam cho họng bị kích ứng hoặc viêm kéo dài, với các nốt nhỏ nổi rõ ở thành sau. Đây thường là mô lympho to lên, thuộc hệ miễn dịch. Hình ảnh đôi khi được mô tả như bề mặt lát đá. Thuật ngữ mô tả một dấu hiệu, không xác định một nhiễm trùng cụ thể hay một cách điều trị duy nhất.

Viêm họng hạt kéo dài cần được đánh giá theo nguyên nhân thay vì chỉ dựa vào hình ảnh các hạt ở thành sau họng. Hướng dẫn đi khám khi bị ốm tại Việt Nam giải thích các lựa chọn chăm sóc phù hợp. Nếu được kê thuốc, hãy kiểm tra hoạt chất và cách dùng qua bài thuốc tại Việt Nam. Khó thở, không nuốt được nước bọt hoặc sưng tiến triển nhanh cần trợ giúp cấp cứu.

Câu hỏi hữu ích là vì sao họng tiếp tục bị kích ứng. Dịch mũi chảy sau, dị ứng, nhiễm trùng lặp lại, khô, khói thuốc và đôi khi trào ngược có thể góp phần. Điều trị cần hướng vào nguyên nhân có khả năng và triệu chứng, thay vì chỉ cố loại bỏ mọi hạt nhìn thấy. Đau kéo dài, khó nuốt hoặc khối không rõ nguyên nhân cần được đánh giá dù trước đó đã được gọi là “viêm họng hạt”.

Các hạt có và không có ý nghĩa gì?

Họng chứa mô miễn dịch có thể nổi rõ hơn khi đáp ứng kích ứng hoặc nhiễm trùng. Các vùng gồ nhỏ có thể vẫn nhìn thấy sau khi giai đoạn khó chịu nhất đã qua. Sự hiện diện không chứng minh vi khuẩn còn hoạt động, mủ bị giữ bên trong hoặc cần kháng sinh.

Ảnh điện thoại có thể làm đỏ rõ hơn do ánh sáng và không cho thấy mọi cấu trúc cần thiết. Không cạo, bóp hay chọc hạt. Bác sĩ phân biệt mô phản ứng phân bố tương đối đều với vết loét khu trú, khối bất đối xứng hoặc bất thường cần khảo sát thêm. Mục tiêu là chức năng bình thường và giảm triệu chứng, không phải bề mặt hoàn toàn nhẵn trong mọi bức ảnh. Dấu hiệu thay đổi, chảy máu hoặc rõ hẳn một bên cần khám lại.

Triệu chứng thường gặp và kiểu xuất hiện

Người bệnh có thể cảm thấy khô, ngứa, đau nhẹ, có nhầy, thường xuyên hắng giọng hoặc ho kích thích. Triệu chứng dao động trong ngày, khi tiếp xúc khói, nói lâu hoặc nghẹt mũi. Một số thấy rõ nhất khi thức dậy vì đã thở miệng qua đêm.

Phân biệt cảm giác khó chịu với khó đưa thức ăn hoặc nước xuống thực sự. Cảm giác có gì đó nhưng ăn bình thường có thể khác với thức ăn mắc, sặc hoặc nuốt đau. Ghi nhận sốt, ngứa mũi, hắt hơi, ợ nóng, khàn tiếng hoặc bệnh hô hấp gần đây. Những biểu hiện đi kèm thường hữu ích hơn chỉ đánh giá kích thước hạt nhìn thấy.

Dịch mũi chảy sau và dị ứng

Chất nhầy bình thường đi từ mũi xuống họng và được nuốt mà ít nhận biết. Khi viêm mũi hoặc có vấn đề xoang, dịch có thể rõ hơn và kích ứng họng. Dị ứng có khả năng hơn khi kèm hắt hơi, ngứa mũi và chảy nước mắt, nhưng không phải mọi trường hợp dịch chảy sau đều dị ứng.

Điều trị bệnh mũi đã xác định có thể giúp họng mà không cần thủ thuật tại họng. Tùy nguyên nhân, bác sĩ có thể đề nghị kháng histamin, xịt mũi corticoid hoặc nước muối. Kỹ thuật xịt đúng và dùng đều quan trọng khi kê điều trị dự phòng. Không tự động kết hợp nhiều thuốc cảm: một số làm khô dịch hoặc gây buồn ngủ. Nghẹt một bên kéo dài, dịch máu hoặc mùi bất thường không nên đơn giản coi là dị ứng thông thường.

Khô, khói và thở miệng

Khói thuốc lá, khí dung thuốc lá điện tử, bụi và chất kích thích khác có thể duy trì khó chịu. Điều hòa hoặc không khí khô có thể làm nặng, nhất là khi gió thổi vào mặt. Nghẹt mũi thúc đẩy thở miệng, làm giảm vai trò làm ấm và làm ẩm không khí của mũi.

Giảm phơi nhiễm liên quan hữu ích hơn liên tục làm tê họng trong khi tác nhân vẫn còn. Uống đủ tránh mất nước, nghỉ khi nói lâu và xem môi trường ngủ có quá khô không. Máy tạo ẩm cần được vệ sinh đúng để không thành nguồn ô nhiễm. Ngáy hoặc tắc mũi dai dẳng có thể cần đánh giá riêng; viên ngậm không sửa được vấn đề luồng khí nền.

Có thể do trào ngược, nhưng không phải mọi triệu chứng họng đều do trào ngược

Trào ngược góp phần gây kích ứng ở một số người, đặc biệt khi có ợ nóng hoặc trớ. Tuy nhiên, hắng giọng, khàn tiếng và cảm giác vướng có nhiều nguyên nhân. Những triệu chứng này hoặc họng hơi đỏ không xác nhận acid dạ dày là thủ phạm.

Một thử nghiệm đối chứng giả dược quy mô đáng kể cho thấy lansoprazole không cải thiện triệu chứng họng kéo dài hơn giả dược ở quần thể nghiên cứu. Điều đó không có nghĩa trào ngược acid đã xác định không bao giờ cần điều trị; nó cho thấy thuốc giảm acid không nên là đáp án tự động cho mọi khó chịu họng mạn tính. Nếu nghi trào ngược, trao đổi bằng chứng, kế hoạch có thời hạn và lúc đánh giá lại. Tránh nằm ngay sau ăn, nhận diện tác nhân riêng nếu liên quan, thay vì ăn kiêng quá mức hoặc dùng thuốc vô thời hạn không xem lại.

Nhiễm trùng cấp và viêm họng liên cầu

Nhiễm virus cấp có thể gây đau họng và khiến mô lympho tạm nổi rõ. Ho, sổ mũi và khàn tiếng thường đi cùng bệnh virus. Liên cầu nhóm A là nguyên nhân khác gây đau họng cấp, thường kèm sốt, nuốt đau và hạch cổ đau, nhưng hình ảnh đơn thuần không phân biệt đáng tin cậy mọi trường hợp.

Khi nghi liên cầu, bác sĩ có thể dùng xét nghiệm nhanh hoặc cấy họng. Quyết định tùy tuổi và biểu hiện; xét nghiệm nhanh âm tính ở trẻ có triệu chứng có thể cần cấy xác nhận. Kháng sinh phù hợp khi xác nhận liên cầu, theo phác đồ được kê, nhưng không trị virus. Hạt tồn tại mạn tính không phải lý do dùng kháng sinh nhiều đợt. Bệnh cấp mới cần được đánh giá theo đặc điểm riêng thay vì tự động quy cho nhãn họng có từ lâu.

Bệnh có lây không?

Hạt phản ứng do dị ứng, khô hoặc trào ngược tự nó không lây. Nếu có nhiễm trùng hô hấp bên dưới, nhiễm trùng đó có thể lan. Nguy cơ phụ thuộc nguyên nhân, triệu chứng và giai đoạn, không chỉ hình ảnh họng có hạt.

Trong bệnh hô hấp cấp, rửa tay, che ho và tránh chung cốc giảm lây. Tuân thủ hướng dẫn riêng khi chẩn đoán liên cầu hoặc nhiễm trùng khác. Với liên cầu, ở nhà đến khi hết sốt và qua khoảng thời gian thích hợp sau kháng sinh hiệu quả giúp giảm lây; bác sĩ giải thích hướng dẫn địa phương. Người nhà không cần kháng sinh chỉ vì một người có hạt họng mạn tính. Triệu chứng mới trong gia đình cần đánh giá từng người.

Khám có thể gồm những gì?

Bác sĩ khám miệng, amidan, mũi và cổ, hỏi thời gian cùng yếu tố làm đổi triệu chứng. Có thể tìm viêm mũi, tổn thương miệng, mất nước, nhiễm trùng hoặc bất thường khu trú. Xem lại thuốc giúp phát hiện sản phẩm gây khô miệng hay góp phần ho.

Bác sĩ tai mũi họng có thể nội soi mềm vùng không nhìn được qua miệng, nhất là khi khàn tiếng kéo dài hoặc chưa rõ nguyên nhân. Xét nghiệm cần trả lời câu hỏi cụ thể: phết tìm nhiễm trùng, đánh giá dị ứng ở trường hợp chọn lọc hoặc khảo sát khác khi bệnh sử gợi ý. Không phải ai cũng cần chụp hình hoặc sinh thiết. Ngược lại, tổn thương đáng nghi kéo dài không nên bị bỏ qua vì phần họng còn lại giống viêm mạn thường gặp.

Giảm khó chịu an toàn

Uống nước, ăn mềm và tránh khói giúp trong đợt đau. Súc nước muối ấm có thể làm dịu ở người lớn biết súc rồi nhổ an toàn; không yêu cầu trẻ nhỏ làm vậy. Paracetamol hoặc ibuprofen có thể giảm đau khi phù hợp, theo nhãn và kiểm tra chống chỉ định cá nhân, không tăng quá liều vì họng vẫn khó chịu.

Viên ngậm có thể giảm ngắn hạn ở mức hạn chế nhưng gây nguy cơ hóc ở trẻ nhỏ. Sản phẩm tại chỗ khác thành phần, nên không cho rằng mọi xịt hoặc thảo dược đều vô hại. Tránh nước quá nóng và dung dịch súc đậm đặc, mạnh có thể làm tổn thương niêm mạc. Giảm triệu chứng nên giúp ăn uống, không dùng để che khó nuốt tiến triển hoặc trì hoãn kiểm tra dấu hiệu cảnh báo.

Chăm sóc mũi bằng nước muối cần nước sạch phù hợp

Khi triệu chứng mũi góp phần, xịt hoặc rửa nước muối có thể hữu ích trong kế hoạch phù hợp. Sản phẩm pha sẵn và dung dịch rửa tự chuẩn bị có yêu cầu thao tác khác nhau. Để rửa bên trong mũi, dùng nước cất, vô khuẩn hoặc đã đun sôi rồi để nguội. Nước uống an toàn chưa chắc an toàn để rửa mũi.

Theo hướng dẫn thiết bị về pha muối, vệ sinh, làm khô và không dùng chung. Không cố rửa khi đau nhiều hoặc căng tai; hỏi kỹ thuật hoặc mức phù hợp. Nước muối không thay điều trị nhiễm trùng nghiêm trọng; thêm chất sát khuẩn hay chất khác không được hướng dẫn có thể kích ứng. Mục tiêu là chăm sóc nhẹ nhàng, không cố sát trùng mạnh toàn bộ đường thở trên.

Phá vòng lặp hắng giọng

Hắng mạnh lặp lại cọ xát và kích thích mô, tạo thêm cảm giác muốn hắng. Vòng lặp có thể tiếp tục sau khi tác nhân đầu đã cải thiện. Nhấp nước hoặc nuốt nhẹ ít kích thích hơn ho liên tục để loại bỏ cảm giác khi không có vật cần tống ra.

Lời khuyên không nhằm kìm ho bảo vệ khi sặc hoặc bỏ qua ho đờm dai dẳng. Cần đánh giá kiểu triệu chứng trước. Căng giọng, căng cơ và tăng nhạy cảm góp phần vào triệu chứng kéo dài; trị liệu giọng nói có thể giúp người phù hợp. Cảm giác globus là vướng như có khối, không giống khối thực thể hay khó nuốt thật. Khó nuốt thức ăn hoặc nước mới xuất hiện cần khám lại.

Thủ thuật và lời hứa chữa dứt điểm

Một số dịch vụ cung cấp đốt hoặc thủ thuật khác để giảm mô nổi rõ. Can thiệp vào hạt không nhất thiết loại bỏ tác nhân còn tồn tại như viêm mũi, khói hoặc trào ngược. Trước khi cân nhắc, xác định đang điều trị gì và dấu hiệu đó có thực sự giải thích triệu chứng không.

Hỏi lợi ích dự kiến, bằng chứng, nguy cơ đau, chảy máu hoặc sẹo và cách xử trí tái phát. Can thiệp cần chỉ định rõ, không chỉ vì một ảnh khiến lo lắng. Không tự đốt hóa chất hoặc lấy hạt tại nhà. Nếu tổn thương lạ, chẩn đoán có thể quan trọng hơn phá hủy nó. Cần thận trọng với lời khẳng định một thủ thuật chữa vĩnh viễn mọi dạng viêm họng hạt.

Dấu hiệu khiến kế hoạch phải thay đổi

Cấp cứu khi khó thở, thở có tiếng bất thường, không nuốt được nước bọt, chảy dãi kèm bệnh nặng hoặc sưng tăng nhanh. Đau họng dữ dội một bên kèm khó há miệng, giọng ngậm hột thị hoặc sưng cổ có thể báo nhiễm trùng sâu. Đây không phải biểu hiện thông thường để chỉ dùng viên ngậm.

Khám sớm khi đau một bên kéo dài, khối cổ, sụt cân không rõ, có máu, khó nuốt tiến triển hoặc khàn tiếng dai dẳng. Loét miệng quá ba tuần cũng cần kiểm tra. Các triệu chứng có nhiều nguyên nhân và không tự động nghĩa ung thư, nhưng không nên quy vô hạn cho hạt. Người giảm miễn dịch hoặc mất nước đáng kể có thể cần khám sớm hơn dù hình ảnh không nổi bật.

Theo dõi và hạn chế tái diễn

Cải thiện phụ thuộc nguyên nhân. Nhiễm trùng cấp có thể giảm sau vài ngày; bệnh mũi mạn hoặc kiểu kích ứng cần kế hoạch dài và nhất quán hơn. Thống nhất điều gì cần cải thiện, thử điều trị bao lâu và khi nào quay lại nếu không hiệu quả. Triệu chứng tồn tại sau thử điều trị phù hợp là lý do xem lại nguyên nhân, không chỉ lặp mãi cùng đơn.

Giảm khói, quản lý bệnh mũi đã xác nhận và dùng thuốc đúng. Theo dõi thay đổi có ý nghĩa về nuốt, ngủ, ho và mức dễ chịu thay vì soi họng nhiều lần mỗi ngày. Mô nhìn thấy có thể không biến mất ngay khi triệu chứng giảm. Kết quả hữu ích là thở, nói, ăn thoải mái và không còn dấu hiệu cảnh báo chưa rõ. Chăm sóc lâu dài hiệu quả nhất khi theo nguyên nhân kích ứng, thay vì coi “hạt” là chẩn đoán trả lời mọi câu hỏi.

Câu hỏi thường gặp

Tôi có thể dùng bài này để tự chẩn đoán hoặc tự điều trị không?

Không. Bài cung cấp thông tin chung và điểm chuẩn bị thực tế. Bác sĩ hoặc dược sĩ cần đánh giá triệu chứng, chẩn đoán, thuốc và quyết định điều trị của từng người.

Tôi nên xác nhận thông tin nào trước khi hành động?

Hãy xác nhận các chi tiết có thể thay đổi như lịch hẹn, phí, tồn kho thuốc, khả năng cung cấp dịch vụ và hướng dẫn địa phương từ nguồn chính thức hiện tại.

Nên mang gì khi đi khám?

Mang giấy tờ khi được yêu cầu, danh sách thuốc và dị ứng, hồ sơ cũ liên quan và mốc thời gian ngắn của triệu chứng. Với khám chuyên khoa, nên mang chẩn đoán hình ảnh hoặc xét nghiệm trước đó nếu có.

Khi nào cần tìm trợ giúp y tế khẩn cấp?

Hãy tìm chăm sóc khẩn cấp khi triệu chứng nặng hoặc xấu nhanh, khó thở, ngất, chảy máu nhiều, xuất hiện triệu chứng thần kinh mới hoặc tình huống có vẻ nguy hiểm tức thời.

Nguồn

  1. Cleveland Clinic - Cobblestone throat
  2. ENT Health - Post-nasal drip
  3. NHS - Allergic rhinitis
  4. BMJ - TOPPITS randomised trial
  5. CDC - Group A streptococcal pharyngitis
  6. Royal Berkshire NHS - Chronic cough and throat clearing
Tan Nguyen

Tác giả

Tan Nguyen

Tác giả y khoa của Vietnam Clinic. Bác sĩ, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

John Maitland

Rà soát y khoa

John Maitland

Người rà soát y khoa của Vietnam Clinic. Bác sĩ, Đại học Pennsylvania.

Đọc tiếp

Thêm cẩm nang sức khỏe tại Việt Nam

So sánh cơ sở y tế

Khám phá các bài so sánh biên tập dựa trên thông tin công khai.

Xem bài so sánh