Quay lại cẩm nang sức khỏe ·

Rối loạn tiền đình: chóng mặt, hoa mắt và điều trị

Rối loạn tiền đình ảnh hưởng đến hệ thống tai trong và não giúp kiểm soát thăng bằng và định hướng không gian. Chóng mặt và cảm giác quay cuồng là triệu chứng thường gặp nhưng có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau.

Rối loạn tiền đình: chóng mặt, hoa mắt và điều trị

Rối loạn tiền đình là gì?

Hệ tiền đình giúp não nhận biết chuyển động đầu, duy trì thăng bằng và nhìn rõ. Hệ này gồm các cấu trúc trong tai trong, dây thần kinh tiền đình và đường liên hệ trong não. Rối loạn có thể gây cảm giác xoay, mất thăng bằng, buồn nôn hoặc khó giữ hình ảnh ổn định khi di chuyển. Những triệu chứng này có thể đáng sợ nhưng không phải đều có cùng nguyên nhân hay cách điều trị.

Ở Việt Nam, “rối loạn tiền đình” thường được dùng rộng cho chóng mặt hoặc vấn đề thăng bằng. Nên hiểu đây là mô tả cần làm rõ hơn là một chẩn đoán chính xác duy nhất. Một số người có bệnh tai trong, người khác bị migraine, tác dụng của thuốc, vấn đề huyết áp hoặc bệnh thần kinh.

Thăng bằng hoạt động bình thường thế nào?

Các ống bán khuyên nhận biết chuyển động xoay của đầu. Những cơ quan khác trong tai trong giúp nhận biết trọng lực và chuyển động theo đường thẳng. Tín hiệu từ hai tai được kết hợp với thông tin từ mắt, cơ và khớp. Não dùng các thông tin này để phối hợp tư thế và chuyển động mắt.

Phản xạ tiền đình–mắt giúp giữ vật nhìn rõ khi đầu chuyển động. Khi hệ này suy giảm, biển báo có thể trông như nảy hoặc nhòe lúc đi bộ. Thăng bằng có thể kém hơn trong tối hoặc trên nền gồ ghề vì thị giác và thông tin tin cậy từ bàn chân ít có khả năng bù đắp hơn.

Mô tả thời gian và yếu tố khởi phát

“Chóng mặt” có thể nghĩa là xoay, sắp ngất, đung đưa hoặc không thể đi vững. Chỉ từ đó ít hữu ích hơn thời gian và hoàn cảnh. Hãy để ý triệu chứng kéo dài vài giây, phút, giờ hay liên tục nhiều ngày; một động tác có thực sự khởi phát cơn hay chỉ làm cảm giác vốn liên tục nặng hơn.

Ví dụ, cơn ngắn khi trở mình trên giường khác với chóng mặt nặng vẫn còn khi nằm yên. Choáng ngay sau đứng lên khác với các cơn tái diễn kèm thay đổi thính lực. Những kiểu này định hướng khám nhưng chưa đủ tin cậy để tự chẩn đoán. Nhiều vấn đề cũng có thể cùng tồn tại.

Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính

BPPV xảy ra khi các hạt canxi nhỏ đi vào một ống bán khuyên và làm sai lệch tín hiệu chuyển động. Bệnh thường gây xoay ngắn sau thay đổi tư thế đầu nhất định, như nằm ngửa, ngước lên hoặc trở mình. Buồn nôn hoặc mất thăng bằng nhẹ còn dư có thể kéo dài hơn cơn xoay ngắn.

Bác sĩ có thể làm nghiệm pháp tư thế, gồm Dix–Hallpike cho một thể thường gặp, đồng thời quan sát chuyển động mắt đặc trưng. Các ống khác nhau cần nghiệm pháp và điều trị khác nhau. BPPV điển hình thường không gây giảm thính lực mới, yếu kéo dài hoặc chóng mặt xoay nặng liên tục khi nghỉ; những đặc điểm đó cần tìm lời giải thích khác.

Thủ thuật tái định vị sỏi tai, chẳng hạn Epley được lựa chọn phù hợp, đưa các hạt ra khỏi ống bị ảnh hưởng. Thuốc không đưa chúng về vị trí. Trước tiên, người có chuyên môn cần xác định bên và ống liên quan, kiểm tra xem vấn đề cổ, lưng hoặc mạch máu có cần điều chỉnh thao tác không. Bài tập tại nhà hữu ích nhất sau chẩn đoán và hướng dẫn đúng.

Viêm thần kinh tiền đình và viêm mê nhĩ

Viêm thần kinh tiền đình ảnh hưởng dây thần kinh tiền đình, có thể gây một đợt chóng mặt đột ngột, kéo dài, kèm buồn nôn và khó đi lại. Thính lực thường được bảo tồn. Viêm mê nhĩ liên quan tai trong và có thể kèm giảm thính lực hoặc ù tai ngoài triệu chứng thăng bằng. Không nên dùng hai thuật ngữ thay nhau mà không xem xét thính lực.

Triệu chứng thường cải thiện qua vài ngày, còn thăng bằng hồi phục từ từ trong vài tuần. Tuy nhiên, cơn đầu tiên nặng và liên tục cần được đánh giá vì đột quỵ có thể giống bệnh tai trong. Giảm thính lực đột ngột mới cũng cần khám khẩn. Vừa bị cảm không tự chứng minh nguyên nhân là lành tính hoặc do virus.

Thuốc ngắn hạn có thể giúp buồn nôn và chóng mặt nặng. Khi phù hợp, vận động tăng dần và phục hồi tiền đình hỗ trợ hồi phục. Kháng sinh không phải điều trị thường quy cho nguyên nhân được cho là virus. Có thể trao đổi về corticosteroid ở một số ca viêm thần kinh tiền đình sớm, nhưng lợi ích chưa chắc chắn nên đây là quyết định cá nhân hóa, không phải yêu cầu cho tất cả.

Bệnh Ménière

Bệnh Ménière gây các cơn chóng mặt tái diễn kèm giảm thính lực dao động, ù tai và cảm giác áp lực hoặc đầy trong tai. Cơn thường dài hơn nhiều so với BPPV. Chẩn đoán dựa vào kiểu triệu chứng, đánh giá thính lực và loại trừ nguyên nhân khác; chỉ chóng mặt là chưa đủ.

Điều trị có thể gồm biện pháp xử trí cơn, tư vấn ăn uống cá nhân hóa và thuốc dự phòng. Một số người cần tiêm hoặc thủ thuật chuyên khoa khi triệu chứng vẫn gây hạn chế lớn. Lợi ích và nguy cơ khác nhau, nhất là khi điều trị có thể ảnh hưởng thính lực hoặc chức năng thăng bằng còn lại. Không mặc định mọi người cần cùng mức hạn chế muối, cùng thuốc hoặc can thiệp xâm lấn.

Phục hồi thính lực và trị liệu tiền đình có thể giúp khó khăn kéo dài giữa các cơn. Điều trị nhằm giảm gánh nặng bệnh, không bảo đảm ngăn mọi cơn hoặc thay đổi thính lực về sau. Triệu chứng mới ngoài kiểu đã xác định cần được đánh giá lại.

Migraine tiền đình

Migraine có thể gây chóng mặt, nhạy cảm chuyển động và mất thăng bằng, có hoặc không có đau đầu cùng lúc. Nhạy sáng hoặc tiếng động, aura thị giác, tiền sử migraine và các đợt tái diễn có thể là manh mối. Không đau đầu trong cơn chóng mặt không loại trừ migraine tiền đình.

Xử trí thường gồm ngủ và ăn đều, chú ý yếu tố khởi phát riêng, và thuốc điều trị migraine khi phù hợp. Có thể cân nhắc dự phòng nếu cơn thường xuyên hoặc gây hạn chế lớn. Dùng lặp lại thuốc ức chế tiền đình không phải chiến lược dài hạn chính. Giảm thính lực đáng kể cần được đánh giá bệnh tai trong hoặc tình trạng khác cùng tồn tại.

Chóng mặt tư thế–tri giác dai dẳng

PPPD là rối loạn tiền đình chức năng mạn tính, với chóng mặt không xoay hoặc chao đảo vào hầu hết các ngày trong ít nhất ba tháng. Triệu chứng thường tăng khi đứng, di chuyển hoặc nhìn môi trường thị giác phức tạp như dãy hàng siêu thị hay màn hình đang cuộn. Bệnh có thể bắt đầu sau một bệnh tiền đình khác, migraine hoặc sự kiện gây căng thẳng.

Triệu chứng là có thật và không được giải thích đơn giản bằng việc nói người bệnh lo âu. Chẩn đoán dùng một kiểu biểu hiện xác định và xem xét bệnh khác có thể cùng tồn tại. Xử trí có thể gồm giải thích, phục hồi tăng dần thận trọng và cách tiếp cận tâm lý; đôi khi dùng thuốc, nhưng bằng chứng thử nghiệm vững chắc cho thuốc cụ thể còn hạn chế. Kế hoạch phù hợp từng người tốt hơn lời hứa về một cách chữa chắc chắn.

Mất chức năng tiền đình hai bên và nguyên nhân khác

Khi chức năng thăng bằng của cả hai tai giảm, chao đảo và hình ảnh nảy có thể nổi bật hơn cảm giác xoay. Đi trong tối hoặc trên bề mặt không bằng phẳng có thể khó. Nguyên nhân gồm một số bệnh tai trong và phơi nhiễm thuốc có thể gây tổn thương tiền đình, trong đó có gentamicin ở những hoàn cảnh dễ bị ảnh hưởng.

Nguyên nhân chóng mặt khác gồm tụt huyết áp tư thế, hạ đường huyết, thiếu máu, rối loạn nhịp tim và thuốc an thần. Vấn đề thị giác hoặc giảm cảm giác bàn chân có thể làm thăng bằng kém thêm. Những tình trạng này cần điều trị riêng, không nên tự động được chẩn đoán tai trong hoặc cho sản phẩm quảng bá tăng tuần hoàn não.

Khi nào chóng mặt là cấp cứu?

Cần cấp cứu khi chóng mặt đột ngột kèm méo mặt, yếu hoặc tê một bên, khó nói, nhìn đôi, đau đầu hay đau cổ dữ dội mới, hoặc không thể đứng hay đi an toàn. Đột quỵ phần sau não đôi khi chủ yếu biểu hiện bằng chóng mặt và mất thăng bằng. Không yếu tay rõ không đủ tin cậy để loại trừ đột quỵ.

Ngã quỵ, đau ngực, khó thở nặng hoặc nhịp tim bất thường rõ cũng cần đánh giá khẩn. Nôn liên tục không giữ được dịch uống có thể gây mất nước và cần điều trị. Giảm thính lực đột ngột cần khám khẩn ngay cả khi không có dấu thần kinh khác.

Không tự lái xe trong cơn nặng. Ngồi hoặc nằm ở nơi an toàn và nhờ trợ giúp. Từng được chẩn đoán BPPV, migraine hoặc “rối loạn tiền đình” không có nghĩa một cơn mới và khác cũng cùng nguyên nhân. Cần khám lại khi kiểu biểu hiện thay đổi đáng kể.

Đánh giá có thể gồm những gì?

Bác sĩ xem xét thời gian, yếu tố khởi phát, triệu chứng thính lực, đặc điểm migraine, thuốc và nguy cơ mạch máu. Khám có thể gồm chuyển động mắt, nghe, phối hợp chi, đi lại và huyết áp lúc nằm, đứng. Đo thính lực và xét nghiệm tiền đình chuyên biệt giúp xác định thiếu hụt cụ thể khi có chỉ định.

HINTS là đánh giá chuyên biệt tại giường dành cho một số bệnh nhân có hội chứng tiền đình cấp liên tục. Người thực hiện và diễn giải phải được đào tạo; đây không phải phép thử đột quỵ tại nhà và không phù hợp mọi người chóng mặt. Dùng sai có thể tạo yên tâm giả.

Chụp não được chọn theo các dấu hiệu. BPPV điển hình đã xác nhận thường không cần chụp thường quy, trong khi nghi bệnh trung ương có thể cần kiểm tra khẩn. CT đầu bình thường không loại trừ đáng tin cậy mọi nguyên nhân chóng mặt cấp, đặc biệt đột quỵ nhỏ thuộc tuần hoàn sau. Đánh giá lâm sàng và theo dõi phù hợp vẫn quan trọng.

Phục hồi chức năng tiền đình

Phục hồi tiền đình dùng bài tập phù hợp với suy giảm đã chẩn đoán. Bài tập ổn định ánh nhìn rèn khả năng nhìn khi đầu chuyển động; bài tập thăng bằng và đi lại tăng ổn định; tiếp xúc tăng dần thận trọng có thể giảm nhạy cảm chuyển động. Bằng chứng mạnh ủng hộ phục hồi cho suy giảm chức năng tiền đình ngoại biên, nhưng chương trình cần phản ánh thiếu hụt và mục tiêu chức năng cá nhân.

Một số bài tập tạm gây triệu chứng nhẹ, nhưng cường độ và thời gian hồi lại cần trong mức kiểm soát được. Nặng kéo dài, ngã hoặc triệu chứng thần kinh mới là lý do dừng và xin tư vấn. Không sao chép chương trình cường độ cao trên mạng khi chưa biết có phù hợp không.

Tiến bộ có thể là đi xa hơn, quay đầu dễ chịu hơn hoặc chịu được môi trường đông và phức tạp hơn. Tránh hoàn toàn chuyển động có thể làm chậm thích nghi, còn tập quá sức có thể phản tác dụng. Chuyên viên có thể điều chỉnh giữa thử thách, an toàn và hồi phục thay vì dùng một chương trình cố định cho tất cả.

Thuốc có vai trò cụ thể

Thuốc kháng histamine, chống nôn và đôi khi thuốc ức chế tiền đình khác có thể giúp cơn cấp nặng. Chúng có thể gây buồn ngủ, phản ứng chậm và té ngã. Dùng dài hạn có thể cản trở bù trừ trong một số bệnh tiền đình, nên cần thời hạn và kế hoạch xem lại rõ ràng. Không phối hợp thuốc gây buồn ngủ với rượu hoặc lái xe khi bị ảnh hưởng.

Thuốc ức chế tiền đình thường quy không phải điều trị ưu tiên cho BPPV. Chẩn đoán khác có thể cần dự phòng migraine, kế hoạch riêng cho Ménière hoặc điều trị nguyên nhân y khoa nền. Thuốc giúp chóng mặt của một người có thể không phù hợp cảm giác sắp ngất hoặc mất thăng bằng của người khác.

Thảo dược “tuần hoàn não” không nên thay chẩn đoán, thủ thuật tái định vị hoặc phục hồi. Triệu chứng dai dẳng không nhất thiết cần thêm viên thuốc. Nếu chính thuốc có thể góp phần, hãy yêu cầu rà soát có giám sát thay vì đột ngột ngừng điều trị thiết yếu đã kê.

Vì sao có thể cùng tồn tại hai chẩn đoán?

Một người có thể vừa BPPV vừa migraine, hoặc hồi phục sau viêm thần kinh tiền đình nhưng xuất hiện nhạy cảm chuyển động thị giác kéo dài. Vì vậy, điều trị cơn xoay ngắn do tư thế có thể không thay đổi một triệu chứng khác. Điều này không tự động có nghĩa thủ thuật thất bại hoặc mọi điều trị đều không hiệu quả.

Hãy mô tả riêng từng kiểu: điều gì khởi phát, kéo dài bao lâu và đi cùng triệu chứng gì. Thính lực dao động, choáng khi đứng và chóng mặt ở nơi thị giác phức tạp có thể gợi ý những yếu tố khác nhau. Kế hoạch điều chỉnh có thể nhắm vào vấn đề còn lại thay vì lặp vô hạn cùng thuốc hoặc thủ thuật.

Giảm té ngã và hỗ trợ hồi phục

Trong cơn, ngồi xuống sớm và dùng điểm tựa khi đứng. Giữ lối đi thông thoáng, tăng ánh sáng, tránh thang và nơi cao không bảo vệ. Dụng cụ hỗ trợ đi lại phù hợp có thể giúp tạm thời. Đặc biệt cẩn thận ở cầu thang và khi thức dậy ban đêm, nhất là khi cần thị giác bù cho chức năng tiền đình giảm.

Duy trì nước và bữa ăn đều khi phù hợp về y khoa, rồi trở lại hoạt động an toàn từng bước sau giai đoạn cấp. Nằm giường kéo dài thường không phải mục tiêu khi đã loại trừ nguyên nhân nghiêm trọng. Ngủ đều đặc biệt hữu ích nếu migraine góp phần. Các biện pháp này hỗ trợ hồi phục nhưng không thay điều trị chẩn đoán nền.

Tái khám cần xem lại chẩn đoán nếu hồi phục chững, cơn thay đổi hoặc xuất hiện triệu chứng thính lực và thần kinh. BPPV có thể tái phát và cần thủ thuật nhắm đúng một lần nữa; mất thăng bằng mạn có thể cần kế hoạch phục hồi khác. Mục tiêu không chỉ dập chóng mặt vài giờ mà là khôi phục chức năng, đồng thời nhận biết triệu chứng cần đánh giá mới.

Nguồn

  1. NIDCD - Balance disorders
  2. AAO-HNS - BPPV guideline
  3. Johns Hopkins - Vestibular migraine
  4. Barany Society - PPPD criteria
  5. Cochrane - PPPD medicines
  6. SAEM - GRACE-3 acute dizziness
Tan Nguyen

Tác giả

Tan Nguyen

Tác giả y khoa của Vietnam Clinic. Bác sĩ, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

John Maitland

Rà soát y khoa

John Maitland

Người rà soát y khoa của Vietnam Clinic. Bác sĩ, Đại học Pennsylvania.

Đọc tiếp

Thêm cẩm nang sức khỏe tại Việt Nam

So sánh cơ sở y tế

Khám phá các bài so sánh biên tập dựa trên thông tin công khai.

Xem bài so sánh